Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

PHIẾM LUẬN CÀ PHÊ



     CÀ PHÊ PHIẾM LUẬN


   Thành thật mà nói xưa nay mình không thích, nên không nghiện cà phê. Hơn 20 năm trước, khi còn nghiện thuốc lá, mình cũng chỉ coi cà phê đá như những thức uống giải khát khác: đá chanh, chanh muối, coca, xa xị…Hồi đó mình có thói quen nếu điểm tâm sáng bằng bánh mì-trứng oeuf-sur-plate thì dứt khoát thức uống sau đó là cà phê sữa nóng; còn ăn sáng bằng những món khác thì uống gì cũng OK, không thành vấn đề.
   Trong ký ức của mình ly cà phê ngon nhất không phải ở tiệm như Phấn, Asia, cà phê Ông Tôn… ở Huế; Chiều Tím, Thạch Thảo… ở Đà Nẵng; Serenata…ở Cần Thơ; Papa, Tùng…ở Đà Lạt. Ly cà phê ngon nhất mà mình được uống khi mình còn bé và được mẹ mua cho là từ một em bé bán cà phê dạo ở phía trong cửa Thượng Tứ, thành phố Huế. Ôi, ly cà phê thật tuyệt, suốt một đời còn nhớ! Bây giờ chẳng còn ai nhìn thấy được cảnh các em bé bán cà phê dạo như nhồi đó. Để dễ hình dung mình xin mượn hình ảnh những người bán nước trà trên các chuyến xe lửa Thống Nhất mấy chục năm trước: cũng chiếc ấm nhôm bọc vải dày để giữ nhiệt. chiếc ly nhỏ úp trên vòi ấm để khi có người gọi mua thì sẵn sàng để rót cho khách! Hồi đó chẳng thấy ai bảo bán cà phê( hay bán trà) với chỉ một hai cái ly như thế là không vệ sinh cả!
   Năm 1972 mình chuyển công tác vào Cần Thơ. Sau vài ngày, mình khám phá ra rằng sức tiêu thụ cà phê đá, và nước đá cây ở Tây Đô, và sau này biết thêm cả miền Nam cũng vậy, vượt gấp nhiều lần dân miền Trung: chỉ trừ con nít, ở đây có thể nói ai cũng uống cà phê: giàu nghèo, sang hèn, đàn ông, đàn bà, nông thôn và thành thị…thậm chí nhiều người uống ngày ba cử: sáng, chiều, tối. Những lúc khác trong ngày, từ sáng đến chiều tối, khi khát, người ta thích uống đá lạnh.
   Những ngày đầu ở Tây đô vào quán cà phê giải khát khách gọi thức uống nghe rất lạ tai và sau đó phải nghi nhớ học thuộc để cho giống người ta! Ở Huế có cà phê đen, cà phê đá, cà phê sữa nhưng hồi đó ở Cần Thơ vào quán chỉ nghe cà phê đá( gọi tắt là đá), xây chừng(cà phê đen), xây nại(cà phê sữa), xây pạc xĩu( cà phê sữa với sữa nhiều hơn cà phê), nửa hay lưng( nửa cái cà phê đen thôi! Lưng ly mà!) Thật rối rắm!  Tháng trước , một Huynh trưởng Hướng đạo đã từng về công tác Tây đô, biết mình có thời gian dài sống ở đó hỏi mình: “Nè Ông, ở Cần Thơ bây giờ còn cái “nửa” không?” Mình xa Cần Thơ đã gần 10 năm nên phải ngẩn người ra một lúc mới hiểu người đối diện muốn hỏi cái gì!!! Ừ, không biết ở đó bi giờ còn cái “lưng” không nhỉ? Cái ni phải nhờ dân Tây đô trả lời hộ, như bạn Mai Trang Huỳnh chẳng hạn!
   Bạn có biết cà phê Sài gòn khác cà phê Huế cái gì không? Hehehe…Năm ngoái mình về thăm quê, vào cà phê Thành Nội, một quán cà phê khá sang và đẹp ở Huế, gọi một ly cà phê đá. Tiếp viên hỏi mình dạ chú gọi cà phê Huế hay cà phê Sài gòn ạ? Mình ngạc nhiên hỏi lại cà phê Huế là răng, cà phê Sài gòn là răng? Dạ thưa chú cà phê Sài gòn đã pha sẵn, chú uống cháu đem ra ngay; cà phê Huế thì lượt bằng phin, chú phải chờ ạ!
    Chuyện cà phê còn dài dài vì chúng ta đang có cà phê võng, cà phê ôm, cà phê đèn mờ, cà phê dõm, cà phê bẩn… và thời thương hiện nay là cà phê rang xay tại chỗ nhưng hẹn dịp khác vậy.

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

TẢN MẠN


   TẢN  MẠN


   1/- Tuổi già: Già rồi thì nên biết để tự lượng sức mình. Trí óc không còn minh mẫn, cơ thể cũng đã suy yếu không thể chịu đựng một công việc nào đòi hỏi cố gắng về tinh thần cũng như thể chất, dù nhẹ nhàng. Vì vậy mọi chuyện không nên tính đường dài vì không có gì chắc chắn cả kể cả chuyện sinh tử của mình. Tôi đã không suy nghĩ kỹ điều này nên đã mong viết dài hơi Tôi Đi Học. Kết quả là thời gian qua tôi đã không viết được gì như ý. Xin lỗi các bạn.

   2/- Mắc kẹt: Cũng là do thiếu suy nghĩ cẩn thận tôi đã lâm vào một tình trạng thật buồn cười: tôi mắc kẹt trong công việc của mình! Khi bắt đầu viết Tôi Đi Học tôi chỉ nghĩ việc này cũng không phức tạp gì, chỉ là viết lại những gì vui buồn còn nhớ về những ngày tháng ngày hai buổi cắp sách đến trường. Nhưng mới chỉ viết được có 4 đoạn ngắn tôi đã thấy có sự không ổn vì những kỷ niệm buồn vui đó có cái không liên hệ gì đến chuyện đi học! Vì thế chỉ một hai bài bạn Rum đã có comment: “Sao viết Tôi Đi Học mà chỉ nói chuyện ăn uống không vậy? Nguho đúng là có tâm hồn ăn uống!” Tôi thấy mình đã vô tình lâm vào một tình trạng khó xử: viết tiếp thì không đúng với chủ đề nêu ra từ đầu! Phải chi tôi đã viết Thời Thơ Ấu thay vì Tôi Đi Học thì cũng đỡ khổ phần nào! Từ nay tôi chỉ xin dùng những tiểu đề dù nội dung có thể liên hệ nhau nhiều ít. Như vậy thì khỏi kẹt gì cả!

   3/- Cơm Âm Phủ: Lại chuyện ăn uống? Đúng vậy. Nếu tôi nhớ không lầm thì Quách Mạc Nhược(hay Lỗ Tấn?) đã nói thế này(đại ý): Đường đến trái tim gần nhất là qua bao tử!(Nếu sai xin các bạn sửa giùm-Cám ơn).
   Ngày hôm qua được đi ăn cơm khách – Ôi, sao độ này có lộc ăn thế cứ “Ba ngày một tiểu yến, bảy ngày một đại yến”! Món Cơm Âm Phủ của gia chủ (là một người đẹp của phố Hàng Me,Huế ngày xưa) đã được thực khách khen ngợi hết lời. Đặc sản này của Huế đây là lần thứ hai trong đời mình được thưởng thức. Nhìn thì cũng đơn giản nhưng đẹp mắt: Thịt heo nướng, nem, chả, trứng tráng, tất cả đều thái chỉ; kèm dưa chua, rau é quế, tôm chà bông. Riêng cơm thì mình chịu, chỉ thấy hạt cơm thơm,dẽo, béo…Nếu hơi nhạt thì thêm nước mắm chua ngọt hay nước tương( vị tâm).

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

TÔI ĐI HỌC (tt-4)



      TÔI  ĐI  HỌC    (tt-4)


Con đường làng, ngang chừng 4m, hai bên lẫn cỏ mọc với phân trâu, chạy về phía Nam chừng 300m thì gặp con đường cái quan trải lổn nhổn đá đỏ. Rẽ tay phải, về hướng Đông, là con đường tôi đi học hằng ngày hai năm lớp Nhì và lớp Nhất; rẽ tay phải, về hướng Tây là con đường lên thành phố Huế, sau này tôi sẽ lên về hằng ngày, hay hằng tuần để đi học Trung học.
   Những ngày tháng mùa thu mát mẻ, đẹp trời sau ngày tựu trường qua nhanh. Mùa đông xứ Huế lạnh lẽo với con đường trải đá đỏ, ngày hai buổi đi học, nghĩa là bốn bận đi về, thực sự là một thách thức đối với một thằng bé còn nhiều chất phố thị, chưa quen với những gian khổ, thiếu thốn của cuộc sống ở làng quê như tôi. Con đường chạy giữa đồng không mông quạnh, một bên là những thửa ruộng xâm xấp nước, một bên là đầm nước và bên kia đầm cũng lại là những cánh đồng buồn thiu chỉ còn sót lại vài gốc rạ. Trên con đường đá đỏ, trong mưa gió khủng khiếp giữa cánh đồng mình không thể đi dép cho đỡ đau chân vì chân ướt nước nên dép cứ vuột ra mãi, mà hồi đó đâu có dép da, giày vải như bây giờ? Chỉ có dép lốp mới chịu được thôi, mà cũng ít người dùng. Nước mưa với gió cũng dán áo mưa vào hai bắp chân làm mình không thể đi nhanh và cũng chỉ một hai hôm là chiếc áo mưa bị xé rách toạt theo cùng bước chân. Thế mới thấy cái tiện dụng của cái áo tơi lá và chiếc nón lá nhà quê! Gió chiều nào thì xoay áo tơi về phía ấy và ấm ơi là ấm! Một tháng sau, Bà Nội tôi cũng đặt hàng để người ta chầm (kết lá bằng chỉ hay dây mây – chầm nón) cho tôi một cái tơi lá, thế nhưng hai bàn chân thì tôi cũng phải đi chân đất như các bạn khác.
   Để đỡ vất vả cho tôi, những ngày mưa lớn, lạnh nhiều, buổi sáng Mợ (Mẹ) tôi nấu thêm cơm bới vào cái cà mèn (gà mên) của lính với ít cá kho tiêu cho tôi xách theo ăn bữa trưa. Nhiều bạn khác cũng xách cơm theo ăn như tôi, nhưng họ mang theo cơm vắt trong mo cau cùng với ít muối mè hay muối đậu phụng.

. Buổi trưa ăn xong là khoảng thời gian rảnh rỗi rất vui, nhất là những khi không mưa hay tạnh mưa!
   Tuy vậy, trong cái lạnh lẽo của mùa đông xứ Huế, bữa cơm trưa mang theo không phải là dễ nuốt! Nhiều khi nuốt cục cơm mà có cảm tưởng như là nuốt phải một cục nước đá! Nó trôi đến đâu là biết đến đấy! Bà Nội tôi lại liên hệ với Mụ (Bà) Đinh, em chú bác ruột với Ông Nội tôi, lấy chồng có nhà gần trường cho tôi được ăn bữa cơm trưa nóng sốt những hôm tôi phải ở lại trường chờ học buổi chiều. Tuy nhiên, chỉ sau bữa cơm trưa đầu tiên, tối đó tôi xin với Bà tôi cho tôi không ăn cơm ở nhà Mụ Đinh nữa. Cả nhà hỏi mãi tôi mới thuật lại: ở nhà Mụ Đinh, người ta ăn canh không như nhà mình. Nhà mình muốn ăn canh phải chan (múc) canh vào chén mới ăn; ở nhà Mụ Đinh, ai muốn ăn canh thì bưng tô canh lên húp một cái “rột” xong để xuống cho người khác húp! Tôi không ăn được như vậy! Ba ngày sau chắc tới tai nhà Mụ Đinh, Mụ cho người nhà  buổi trưa ra trường dẫn tôi về nhà ăn cơm với món canh có muỗng, có vá múc canh đàng hoàng! Tuy vậy, tôi cũng chỉ ăn cơm ở nhà Mụ được vài ngày thì tôi dứt khoát không ăn nữa dù sau đó trời mưa lạnh cách mấy, dù cả nhà hỏi han, động viên này kia…tôi cũng nhất quyết không. Lý do: một buổi trưa đi học về sớm hơn thường lệ, tôi ghé nhà Mụ ăn và nghỉ trưa. Còn sớm nên mụ nhờ tôi lau giùm ít chén,bát để ăn cơm. Chỗ để chén, bát cách bếp nấu ăn của Mụ chưa đến hai bước chân. Trong khi tôi đang lau chén thì Mụ đang loay hoay với nồi canh. Không biết Mụ nêm nếm thế nào mà tôi nhìn thấy Mụ bốc mấy củ nén (một loại gia vị - có nơi gọi là hành tăm) cho vào miệng nhai nhai rồi “phù” một cái, Mụ nhổ cả búng hành tăm trong miệng vào nồi canh đang sôi trên bếp! Dĩ nhiên là bữa trưa hôm đó tôi không dám đụng đến món canh hấp dẫn của Mụ Đinh!

Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

TÔI ĐI HỌC (tt)


        TÔI  ĐI  HỌC     (tt)


Trường Hải Diên Thanh là một trường quê nghèo, cách nhà tôi chừng 3 km, có 5 lớp nhưng ở 3 khu vực rải từ đầu đến cuối làng Hải Trình. Đầu làng, mượn nhà liêu của đình làng, có 2 lớp Hai và Ba. Cuối làng, mượn nhà dưới của một nhà thờ tộc của một họ trong làng làm lớp Một. Ở giữa làng là khu chính bố trí hai lớp Nhì và Nhất. Hai lớp này cùng học trong một nhà dài, quay lưng với nhau, ngăn lớp này và lớp kia bằng một bức màn đen và mỏng. Học bên này cứ nghe thông thống tiếng Thầy giáo bên kia giảng bài, học sinh ca hát…Trước khu vực này là một cái sân chơi nhỏ, nằm cặp con đường làng bằng đất và ngoài kia là con đầm dự trữ nước cho nông nghiệp dài từ làng tôi xuống đây và còn dài thêm vài cây số nữa, bề ngang  chừng 50m. Giờ chơi, chúng tôi ít khi chơi ở đây vì quá nhỏ mà thường sang chơi bên sân nhà thờ họ Hồ bên cạnh rộng và phẳng. Ngay ngày đầu tiên đi học, ra chơi ở sân này tôi suýt bị thằng Bốn đánh vì vẻ trắng trẻo, đẹp trai của con nhà thành thị. Thằng Bốn nổi tiếng du côn ở trường, lưu ban lớp Năm và lớn hơn tôi 2 tuổi. May mà có mấy thằng bạn cùng làng nhảy vào can và chạy vào “méc” thầy tôi. Thế nhưng chừng ba hôm sau, thằng Bốn phải theo mẹ  lên nhà tôi xin lỗi vì mẹ nó gọi ba tôi là anh, bà con chú bác ruột, và theo vai vế nó phải gọi tôi là anh! Từ đó thằng Bốn không bao giờ nhìn đến tôi và tôi được thoải mái học hành và nô đùa trong ngôi trường làng nghèo vì chẳng còn ai ăn hiếp tôi nữa!
     Lớp tôi có chừng ngoài 40 học sinh và được thầy chia làm 5 đội. Một đội nữ, 4 đội nam  là học sinh từ 4 làng đến đây theo học. Thầy chia như thể để chúng tôi có điều kiện sinh hoạt và học tập theo nhóm được thuận lợi. Lớp Bốn là Liên đội Bạch Đằng với bài hát Bạch Đằng Giang của Lưu Hữu Phước. Lớp Năm là Liên đội Lam Sơn với bài hát Nước Non Lam Sơn. Tên và bài hát của liên đội tùy học sinh chọn theo một số gợi ý của giáo viên chủ nhiệm. Cả hai bài hát này rất hay. Trước mỗi buổi học, học sinh phải đứng nghiêm hát Liên đội ca với sự dẫn giọng của lớp trưởng. Theo tôi, đây cũng là cách dạy lịch sử, hun đúc lòng yêu nước  cho các học sinh nhỏ tuổi.
    Dù là một trường làng nghèo nhưng hồi đó ít học sinh nên chúng tôi được học ngày hai buổi. Mỗi năm học mỗi học sinh chỉ phải nộp 3 đồng gọi là tiền Sinh hoạt hiệu đoàn. Sách giáo khoa gồm 5 cuốn: Toán, Quốc văn, Khoa học thường thức, Lịch sử và Địa lý. Những quyển sách này học sinh tự sắm hay có thể mượn của anh em hay bà con đã học những năm trước.Một tuần học năm ngày, thứ Năm và Chủ nhật nghỉ. Tiết đầu tiên của buổi học sáng luôn là hai môn Đức dục hay Công dân giáo dục. Mỗi sáng thứ hai giáo viên chủ nhiệm lại thay một câu cách ngôn mới trên bảng đen. Đây là những câu ca dao hay tục ngữ mà suốt tuần đó học sinh phải cố gắng học và hành như nội dung câu cách ngôn yêu cầu. Đại khái như: Lá lành đùm lá rách – Thương người như thể thương thân…Như vậy thời lượng dành cho giáo dục đạo đức nhiều hơn các môn khác nhiều.
   Bước vào năm lớp Nhì này chúng tôi được học một môn học mới mà chúng tôi thấy khó nuốt vì chẳng hiểu gì cả! Đó là Pháp văn. Thực dân Pháp đã không còn trên đất Việt nhưng ảnh hưởng văn hóa của họ vẫn còn. Thời gian này Anh văn chưa được dạy ở cấp tiểu học. Ở đây tôi nhớ một kỷ niệm vui vui. Cùng làng và học chung lớp với tôi có thằng Lắm. Ba nó ngày xưa, khi còn mồ ma thực dân, làm bồi cho người Pháp. Đại khái công việc của Ông ta  như là Osin vậy. Thời gian ông ta làm bồi chắc cũng lâu nên ông ta có thể nghe và nói tiếng Pháp bồi (loại tiếng chẳng có câu kéo, ngữ pháp gì). Từ khi biết thằng Lắm con ông học Pháp văn ông ta rất khoái và tự hào về vốn tiếng Pháp của mình. Một bữa tôi đến nhà thằng Lắm chơi gặp khi ba nó đang kiểm tra Pháp văn của con.với cái roi trong tay:
-         Cái nhà tiếng Pháp nói răng?
-         La maison.
-         Quyển sách nói răng?
-         Le livre
-         Cái nồi?
-         Con không biết.
-         Răng không biết. Học mà không biết à? Một roi. Vụt!
   Thằng Lắm oằn người vì roi của ba nó.
-         Cái chảo nói răng?
-         Ừ…ừ…con chưa học.
-         Răng chưa học? Học Pháp văn mà nói chưa học!? Một roi. Vút!

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

TÔI ĐI HỌC (tt)

        TÔI ĐI HỌC    (tt)


   Mùa hè năm lớp Ba tôi phải xa trường Thượng Tứ vì Cậu Mợ tôi (Ba Mẹ) thất bại trong kinh doanh, cả gia đình,  trừ Cậu tôi, phải trở về quê cũ. Vậy là  chiều chiều tôi không còn được vào Ba Viên nhổ me đất cho mẹ nấu canh chua; không còn cùng các bạn đá banh 4 gôn trên nhà bát giác;  vào mùa hè, ban đêm, không còn được cùng chúng bạn chia phe chơi đánh trận giả; không còn  mỗi sáng mùa thu, thật sớm, chạy lên đường Đoàn Thị Điểm nhặt những bông phượng rơi, chưa nở, về  lấy các nhị đực đá gà cùng chúng bạn; không còn thứ bảy hay chủ nhật lê la ở các rạp chiếu phim Tân Tân, Châu Tinh…để xin các tờ programme tường thuật các truyện phim về làm sưu tập; không còn mỗi sáng chủ nhật sinh hoạt Hướng Đạo trong khuông viên Tam Tòa thuộc bầy An Tiêm của Anh A-kê-la Hà Thúc Tuân. Phải 4 năm sau, khi lên lớp Đệ Ngũ (lớp 8 bây giờ) tôi mới trở lại Huế, trở lại trường Bồ Đề, từng ngày, từng giờ sống với nó dù chẳng còn mấy bạn xưa, thầy cũ.
   Nhưng miền quê đã nhanh chóng cuốn lấy một thằng bé thành thị yếu ớt , ngu ngơ và vô dụng là tôi. Chỉ có cái học là tôi hơn những đứa bạn cùng lứa tuổi còn trong thực tế cuộc sống nông thôn, ruộng rẫy tôi chẳng biết gì cả! Cuộc sống ở thôn làng tuy thiếu thốn, nghèo khó như không điện, không nước máy, không xi-nê, không xe hơi và ít xe đạp…nhưng nó lại có nhiều thứ hấp dẫn rất nhiều một thằng con nít tiểu học. Quả thật tôi đã từng thèm thuồng những kỹ năng sống của một thắng bé nhà quê! Đơn giản như nó có thể leo và cởi một con trâu, nằm trên lưng trâu, đua trâu nhưng tôi thì không biết làm gì với nó và chỉ còn biết đứng từ xa mà nhìn vì…sợ trâu! Một thằng bé nhà quê có thể trèo cây bắt tổ chim; bơi lội, cút bắt dưới sông; ra ruộng đắp đập tát nước bắt cá, ra sông câu cá, chèo ghe…và biết bao điều hấp dẫn khác! Một thằng bé thành thị biết làm gì bây giờ? Bởi vậy hồi đó tôi đã thấy thích bài hát của Phạm Duy: “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ…”! Ở quê tôi người lớn hay nhát (dọa) trẻ con:” Mày mà nhát học (làm biếng học) thì cho mày đi chự (giữ) trâu!”. Nhưng ngay mùa hè đâu tiên tôi đã thích đi chự trâu hơn đi học!
   Cuối hè, Mẹ tôi xin cho tôi vào học trường Hải Diên Thanh và để tiện xếp lớp Ông Hiệu trưởng bắt tôi phải thi vào lớp dù chỉ có chưa tới mươi học sinh chuyển trường. Kết quả, tôi xếp thứ 2. Chị Điệp cũng thi vào lớp Nhì như tôi nhưng hơn tôi một điểm và xếp thứ nhất. Nhưng tôi chẳng buồn tí nào vì chị lớn tuổi hơn tôi nhiều, đã có mông có ngực, có dáng của một thiếu nữ đã trưởng thành. Quả thực, chị Điệp chỉ học chung với tôi một năm lớp nhì và nửa năm lớp nhất là có người đi cưới chị! Chắc ngày chị Điệp đi lấy chồng lớp tôi chẳng có ai buồn vì thất tình. Còn tôi chắc chắn là không.
  
    

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

MILA CỦA TÔI

       MILA CỦA TÔI

   
   Mila là con chó lông xù giống Nhật tôi nuôi đã 14 hay 15 năm. Với giống chó ở cái tuổi đó là rất già, nhưng Mila của tôi nhìn thì chẳng già chút nào. Nó chỉ kén ăn hơn xưa nhưng lông lá vẫn xù   và mập. Nó là chó đực lại đẹp mã nên mấy đứa con trong nhà gọi nó là Chàng Đẹp Trai!  Vì thỉnh thoảng cũng gọi nó bằng cái tên này nên gọi nó bằng name hay nickname nó đều hiểu. Để tôi kể bạn nghe sơ sơ về cái Sơ yếu Lý Lịch của nó cho có trước có sau và như thế bạn sẽ hiểu tình cảm mà các thành viên gia đình tôi dành cho nó.
   Tôi mua Milu, mẹ Mila, giá 350 000đồng (thời giá 19 năm trước) ở sau công viên Lưu Hữu Phước, Cần Thơ, khi nó còn bé tí, mới biết ăn. Một năm sau Milu đẻ được 5 con. Chủ chó giống được ưu tiên bắt trước một con đẹp nhất, em trai tôi xin một con đem về Cao Lãnh, còn ba con Mina (chị Hai), Minu (anh Tư) và Mila (em Út) ba đứa con tôi cương quyết giữ lại, mỗi đứa một con, không chịu cho ai. Mina, mập, lông trắng điểm ít vàng, giống mẹ Milu là rất hiền và dễ ăn, cho gì ăn nấy và cũng có các tài lẻ của mẹ là biết đứng thẳng trên hai chân sau còn hai “tay” thì lạy lia lịa hoặc biết chạy tha về một đồ vật mà chủ ném ra xa. Minu lông đốm trắng vàng, rất dữ, đuôi trắng luôn cuốn lại làm thành một bành lông trắng rất đẹp, miệng hơi hô, mũi hay hước lên nhăn nhăn nên mấy đứa con tôi đặt cho nó cái tên Thằng Khinh Đời. Mila có lông vàng tuyền và dù là giống chó xù Nhật nhưng to con, kén ăn và nhát gan, hể bị la rầy (kể cả la rầy những con khác)là nó run rẩy chun vào trốn ở các góc khuất trong nhà. Theo thời gian chỉ còn Mila còn sống đến hôm nay, mẹ và các anh chị của nó đều lần lượt bệnh chết.
   Sáng nào cũng vậy, khi điện thoại báo 5 giờ kém 15 là tôi thức dậy ra đầu hẻm tập thể dục và như thường lệ luôn có Mila đi theo. Chó nuôi nhốt trong nhà nên Mila rất thích theo tôi sáng chiều đi bộ hay tập thể dục; hơn nữa nó cũng nhân dịp đó mà vệ sinh cá nhân. Tôi đứng tập trên hè phố, Mila thường đi loanh quanh gần tôi. Sáng nay khi tôi đang bắt đầu tập động tác thứ ba, Mila đứng dưới đường trước mặt tôi cách chừng ngoài 2m. Bổng có tiếng xe gắn máy tay ga chạy đến rất nhanh rồi nghe “ít” một tiếng nhỏ và bóng Mila chạy rất nhanh đằng sau chiếc xe gắn máy. Thoạt đầu tôi nghĩ sao Mila hôm nay dữ thế, dám  rượt theo người ta đòi cắn! Nhìn lại, thấy Mila càng lúc chạy càng gần đằng sau chiếc xe gắn máy, hai chân trước duỗi thẳng ra đằng trước, phía sau đuôi thì thấp hẳn xuống không giống động tác chạy của mấy chú cẩu. Trong một thoáng tôi hiểu chuyện gì đã xẩy ra, bước theo được ba bước và ú ớ “Ê,ê”. Nhìn theo chỉ còn thấy người ngồi sau xe gắn máy quay mặt lui nhìn tôi và bóng Mila vẫn lê lết dưới đất.
   Tôi viết những dòng này sau khi mất Mila và hãy còn xúc động vì cái chết bất ngờ và đau đớn của nó. Và tôi hiểu được tại sao thời gian gần đây báo chí lên tiếng về tình trạng bà con miền ngoài hay đánh chết kẻ trộm chó. Tôi thương Mila nhưng không phải kiểu thương của người thuê Thầy tu tụng kinh cầu siêu cho chó; tôi nuôi Mila dĩ nhiên không phải để thịt hay như một tài sản nhỏ để dành khi khó khăn. Tôi và các con trong nhà coi nó là một con thú cưng vậy thôi. Tuổi già nuôi chó, nuôi mèo, nuôi chim, nuôi cá…cũng chỉ để cho có việc mà làm vì thời gian rãnh quá nhiều và để khỏi stress. Bà con bức xúc vì mất, có thể coi như, một thành phần trong gia đình hay một tài sản, nhưng dù sao chó vẫn là chó, và chỉ vì con chó mà đánh chết người là chuyện không phải, không nên chút nào. Trường hợp tôi mất Mila sáng nay, theo tôi, không phải là bị trộm như người ta và báo chí thường gọi. Phải gọi là bị cướp mới đúng. Và theo tôi, nếu Nhà Nước không có cách quản lý thích hợp thì máu của kẻ trộm, cướp chó và kể cả máu của người nuôi chó còn chảy (đã xẩy ra và biết đâu nếu sáng nay tôi phát hiện sớm, chạy theo để cứu Mila tôi đã có thể ăn đạn súng hoa cải?). Tôi nghĩ Nhà Nước phải tìm cách quản lý đầu vào của các tiệm kinh doanh cửa hàng ăn uống dù là Phở, Bún…và kể cả những tiệm “A, Đây Rồi”,”Cờ Tây”,”Tiểu Hổ” thì mới mong hạn chế dần và lần hồi đi đến chấm dứt những cái chết vô ích và vô lý liên quan đến con chó.
Vậy là từ nay mỗi sáng chiều không còn Mila lửng thửng theo bước chân tôi đi tập thể dục, hay mỗi ngày khi tôi đi đâu về không còn nó đứng chờ tôi ở cổng rào, chào đón tôi với cái đuôi vẫy lia lịa, miệng thì kêu ăng ẳng khe khẻ.
MILA. RIP.